Bệnh Nhược cơ – Triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị

Nhược cơ được coi là một bệnh thần kinh cơ – tự miễn dịch dẫn đến yếu cơ hoặc suy nhược cơ từng đợt, các cơ vân hoạt động chóng mỏi.

Bệnh thường đi kèm với các bất thường của tuyến ức. Nữ bị nhiều hơn nam. Theo các nghiên cứu khác nhau, tỉ lệ mắc bệnh trong dân cư vào khoảng 0,5 – 5/100.000.

Nguyên nhân bệnh Nhược cơ

Bình thường, Acetylcholine (Ach) được tổng hợp ở đầu tận cùng của dây thần kinh vận động và được giữ trong các nang (Quanta), mỗi nang chứa khoảng 10.000 phân tử Ach. Khi một kích thích đi tới đầu tận cùng dây thần kinh vận động, nó sẽ làm cho khoảng 150 – 200 nang giải phóng ra Ach (nếu các kích thích lặp đi lặp lại, số Ach giải phóng ra sau mỗi kích thích sẽ giảm dần, hiện tượng này được gọi là hiện tượng “giảm Ach tiền sinap”). Các Ach giải phóng ra sẽ kết hợp với thụ cảm thể Ach (Achetylcholine receptor – Achr) ở màng sau sinap thần kinh – cơ.

Việc kết hợp này làm mở các kênh trong Achr và cho các Cation (chủ yếu là Na+) đi vào gây khử cực ở màng sau Sinap thần kinh cơ. Nếu sự khử cực này đủ lớn thì sẽ gây ra một điện thế hoạt động để làm co cơ. Quá trình này kết thúc nhanh chóng bằng việc Ach tách ra khỏi Achr và bị thuỷ phân bởi men Cholinesterase. Lúc này Sinap thần kinh cơ lại sẵn sàng tiếp nhận kích thích mới để quá trình co cơ tiếp diễn.

Trong bệnh nhược cơ, tổn thương cơ bản là suy giảm số lượng Achr hoạt động ở màng sau Sinap, do đó mặc dù số lượng Ach giải phóng ra vẫn bình thường nhưng khả năng tạo ra điện thế khử cực đủ lớn để co cơ ở màng sau Sinap lại bị giảm, kết hợp với hiện tượng ‘giảm Ach tiền Sinap’ sẽ làm khả năng co cơ ngày càng giảm đi, dù các kích thích vẫn đến được đầu tận cùng dây thần kinh vận động một cách bình thường.

Việc suy giảm số lượng Achr hoạt động ở màng sau sinap thần kinh-cơ trong bệnh nhược cơ xảy ra do tác dụng của các tự kháng thể kháng Achr. Các tự kháng thể này làm giảm số lượng Achr hoạt động ở màng sau sinap thần kinh – cơ bằng các cơ chế:

  • Gây thoái hoá các Achr với tỉ lệ tăng dần.
  • Phong bế các vị trí kết hợp của Achr với Ach.
  • Phá huỷ màng cơ sau Sinap thần kinh-cơ khi Ach kết hợp vào Achr với sự có mặt của bổ thể.
  • Vấn đề vì sao ở bệnh nhân nhược cơ lại có các tự kháng thể kháng Achr và cơ chế gây ra các rối loạn tự miễn dịch trong bệnh này diễn ra như thế nào vẫn đang được nghiên cứu và cho đến nay vẫn chưa có kết luận thoả đáng. Một số yếu tố được xác định có liên quan là:
    • Các bệnh nhân bị bệnh nhược cơ ở lứa tuổi trẻ thường thấy có kháng nguyên HLA-B8, còn kháng nguyên HLA-A2 và HLA-A3 thường có ở các bệnh nhân tuổi già bị nhược cơ do u tuyến ức.
  • Bệnh nhược cơ cũng thường đi kèm với các bệnh rối loạn tự miễn dịch khác như: Lupus ban đỏ hệ thống, viêm đa khớp dạng thấp, bệnh Basedow, bệnh Hashimoto…
  • Tuyến ức đóng vai trò rất quan trọng, cụ thể là:

Đại đa số bệnh nhân nhược cơ đều có tuyến ức không bình thường, trong đó chủ yếu là tuyến ức tăng sản với các “trung tâm mầm” hoạt động mạnh và các u tuyến ức.

Trong tuyến ức phát hiện thấy có các tế bào dạng cơ mang trên bề mặt chúng các cấu trúc giống Achr, chúng có thể chính là các tự kháng nguyên kích thích sản xuất ra các tự kháng thể kháng Achr ở bệnh nhân nhược cơ.

Phòng ngừa bệnh Nhược cơ

Bệnh nhân bị nhược cơ tự miễn cần có hiểu biết để tránh hay loại bỏ những nguyên nhân làm bệnh nặng thêm: Không tự ý dùng các thuốc Quinin, Quinidin, chẹn Beta, kháng sinh nhóm Aminoside, Colistine, thuốc giãn cơ…vv. Trường hợp đang dùng mà thấy nhược cơ nặng lên thì phải ngưng ngay và báo cho bác sĩ biết.

Mọi người và bệnh nhân nhược cơ phải phòng tránh và điều trị tích cực các bệnh nhiễm khuẩn bằng cách đeo khẩu trang khi ở nơi công cộng, rửa tay sau khi tiếp xúc với đồ vật. Phòng ngừa các chấn thương như tai nạn giao thông, tai nạn lao động bằng việc đội mũ bảo hiểm và dùng các phương tiện bảo hộ lao động…vv.

Điều trị bệnh Nhược cơ

  • Thuốc kháng Cholinesterase: Prostigmin (Neostigmin), Mytelase, Mestinon…vv.
  • Thuốc ức chế miễn dịch: Các thuốc Corticoid, các thuốc kháng chuyển hoá như Azathiopirine (Imuran), Cyclosporine…vv.
  • Thanh lọc huyết tương.
  • Mổ cắt bỏ tuyến ức.

Trong thực tế điều trị, các biện pháp trên được sử dụng kết hợp với nhau một cách hợp lý để đem lại hiệu quả điều trị tốt nhất đối với từng bệnh nhân cụ thể.

1. Các thuốc kháng Cholinesterase

Các thuốc này có tác dụng ức chế men Cholinesterase (men này có tác dụng tách Ach ra khỏi các Achr ở màng sau Sinap thần kinh cơ và thuỷ phân các Ach đó), vì vậy làm cho các phân tử Ach không bị phá huỷ hết ngay và duy trì được tác dụng của Ach lên các thụ cảm thể của nó ở màng sau Sinap thần kinh – cơ, từ đó duy trì được khả năng co cơ.

Thường dùng các thuốc như Prostigmin, Mytelase, Mestinon…vv.

  • Dạng thuốc tiêm (Prostigmin…vv) có tác dụng nhanh nên thường dùng trong cấp cứu cơn nhược cơ (nên phối hợp với Atropin tiêm bắp trước khi tiêm Prostigmin để dự phòng tác dụng tăng tiết của Prostigmin) hoặc dùng ngay trước các bữa ăn để tạo điều kiện cho bệnh nhân có thể ăn uống và vệ sinh cá nhân được.
  • Các thuốc dạng uống (Mytelase, Mestinon…vv) có tác dụng chậm nhưng kéo dài nên thường được dùng có tính chất dự phòng trước các cơn nhược cơ hoặc khi muốn duy trì kéo dài tác dụng của thuốc.

Cần chú ý là khi dùng quá liều các thuốc kháng cholinesterase có thể gây lên cơn cường cholin. Triệu chứng của cơn cường cholin cũng rất giống cơn nhược cơ nên có thể gây nhầm lẫn trong điều trị cấp cứu.

2. Các thuốc ức chế miễn dịch

Có tác dụng ức chế các phản ứng miễn dịch tạo ra các tự kháng thể trong bệnh nhược cơ (tự kháng thể kháng Achr…vv).

Các thuốc ức chế miễn dịch thường được dùng nhất là:

  • Các thuốc Corticoid (Prednisolon, Depersolon…vv): Đây là thuốc điều trị cơ bản đối với bệnh nhược cơ ở cả giai đoạn có các cơn nhược cơ nặng cấp tính và giai đoạn điều trị duy trì.
  • Các thuốc kháng chuyển hoá như: Azathioprine (Imuran), Cyclosporine…vv thường được dùng phối hợp với các Corticoid.

3. Thanh lọc huyết tương

Có tác dụng lọc bỏ các tự kháng thể cũng như các thành phần bổ thể trong huyết tương của bệnh nhân, nhờ đó giảm được tác dụng của chúng trong việc gây nên các triệu chứng của bệnh nhược cơ. Đứng về khía cạnh nào đó thì phương pháp này cũng được coi là một liệu pháp ức chế miễn dịch.

Tiến hành lấy máu bệnh nhân (thường lấy làm nhiều lần trong mỗi đợt điều trị) và lọc bỏ các thành phần huyết tương, chỉ giữ lại các thành phần hữu hình của máu để sau đó truyền trở lại cho bệnh nhân.

4. Điều trị ngoại khoa

Mục đích cơ bản của điều trị ngoại khoa bệnh nhược cơ là mổ cắt bỏ tuyến ức.

  • Cơ sở của biện pháp điều trị này là:
    • Tuyến ức đóng vai trò quan trọng trong cơ chế đáp ứng tự miễn dịch của cơ thể. Các tế bào lympho T của tuyến ức có tác dụng kích thích các lympho B tạo ra các tự kháng thể lưu hành trong máu, do đó cắt bỏ tuyến ức có thể làm giảm được việc tạo ra các tự kháng thể kháng Achr của màng sau Sinap thần kinh – cơ trong bệnh nhược cơ.
    • Trong tuyến ức có các tế bào dạng cơ mà nhiều nghiên cứu cho rằng nó chính là các tự kháng nguyên có tác dụng kích thích sinh ra các tự kháng thể kháng Achr ở màng sau Sinap thần kinh – cơ. Cắt bỏ tuyến ức sẽ làm mất đi các kháng nguyên đó.
    • Tuyến ức trong bệnh nhược cơ có những biến đổi giải phẫu rất rõ ràng (có thể gặp tăng sản tuyến ức, tồn tại tuyến ức hoặc u tuyến ức). Sau khi cắt bỏ tuyến ức, các triệu chứng nhược cơ ở phần lớn bệnh nhân được cải thiện rõ rệt, nhiều trường hợp khỏi hoàn toàn.
  • Chỉ định mổ cắt bỏ tuyến ức. Cần dựa vào nhiều yếu tố như:
  • Theo độ nặng của bệnh:
    • Các nhược cơ nặng (nhóm III, IV) hoặc đang có cơn nhược cơ hô hấp nặng: Cần phải được điều trị nội khoa tích cực để giảm độ nặng của bệnh hoặc ổn định cơn nhược cơ rồi mới mổ.
    • Nhược cơ toàn thân mức độ nhẹ và trung bình (Nhóm IIA và IIB): Chỉ định mổ sớm.
    • Nhược cơ khu trú chỉ ở mắt (nhóm I): Thường chỉ định mổ khi đã điều trị nội khoa tích cực trên 2 năm mà bệnh không đỡ (lúc này nhiều khả năng bệnh sẽ chuyển sang các độ nặng hơn và nếu mổ muộn thì kết quả sẽ kém hơn).
  • Theo lứa tuổi:
    • Nhược cơ ở bệnh nhân nhỏ tuổi (dưới 13 tuổi): cần cân nhắc khi chỉ định mổ vì việc cắt bỏ tuyến ức ở lứa tuổi này có thể ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân sau này.
    • Nhược cơ ở bệnh nhân tuổi già: Nên chỉ định mổ sớm vì bệnh thường nặng và thường do u tuyến ức.
    • Theo các bệnh đi kèm:
      • Bệnh nhược cơ kèm bệnh Basedow: Chỉ định mổ nhược cơ sau khi đã điều trị bệnh Basedow ổn định bằng nội khoa. Sau khi mổ nhược cơ ổn định, nếu bệnh Basedow vẫn phát triển thì mới chỉ định mổ bệnh Basedow.
      • Bệnh nhược cơ kèm các bệnh viêm nhiễm khác, nhất là nhiễm khuẩn đường hô hấp: Chỉ định mổ khi đã điều trị ổn định được viêm nhiễm, vì sau mổ tình trạng nhiễm khuẩn sẽ làm nhược cơ nặng lên rất nhiều.
  • Các phương pháp mổ cắt bỏ tuyến ức:
    • Mổ cắt bỏ tuyến ức qua đường cổ: Phương pháp này có ưu điểm là ít gây thương tổn cho bệnh nhân, diễn biến sau mổ nhẹ nhàng…vv nhưng nhược điểm là không đảm bảo lấy hết triệt để tuyến ức và tổ chức mỡ lỏng lẻo trong trung thất (các nghiên cứu cho thấy có rất nhiều nang tổ chức tuyến ức nằm rải rác cả trong tổ chức mỡ lỏng lẻo đó) do đó tỉ lệ bệnh tái phát sau mổ cao. Phương pháp này cũng không dùng được cho các trường hợp nhược cơ có u tuyến ức lớn.
    • Mổ cắt bỏ tuyến ức qua đường mở ngực: Ưu điểm là cắt bỏ triệt để được tuyến ức và tổ chức mỡ lỏng lẻo có chứa các nang tổ chức tuyến ức nằm ở trong trung thất. Tuy nhiên so với mổ theo đường cổ thì phương pháp này gây tổn thương nhiều hơn và diễn biến sau mổ cũng thường nặng hơn.
    • Mổ cắt bỏ tuyến ức bằng phẫu thuật nội soi: Ưu điểm là cắt bỏ triệt để được tuyến ức và tổ chức mỡ lỏng lẻo trong trung thất, ít gây thương tổn cho bệnh nhân, diễn biến sau mổ nhẹ nhàng. Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải có trang bị đầy đủ các dụng cụ và phương tiện phẫu thuật nội soi, phẫu thuật viên phải có nhiều kinh nghiệm…vv.

5. Các vấn đề khác trong điều trị

Trong khi thực hiện các phương pháp điều trị nói trên, phải luôn kết hợp với các biện pháp sau:

  • Nâng đỡ toàn trạng bệnh nhân, đảm bảo nuôi dưỡng tốt, bổ sung đầy đủ nước và điện giải, nhất là ở những bệnh nhân có các rối loạn về nuốt.
  • Điều trị tốt các ổ nhiễm khuẩn có thể có trong cơ thể (răng, tai, mũi, họng, phế quản, phổi…), nhất là khi có dùng thuốc corticoid kéo dài, vì tình trạng nhiễm khuẩn thường làm cho triệu chứng nhược cơ nặng lên rất nhiều.
  • Không sử dụng các thuốc có thể gây ức chế quá trình dẫn truyền thần kinh – cơ như: Các thuốc giãn cơ (Cura và các thuốc giống Cura), các thuốc nhóm Benzodiazepam (Seduxen, Tranxen…vv), một số kháng sinh (Streptomycin, Gentamycin, Kanamycin, Lincomicin, Neomycin, Polymyxin B, Bacitracin, Colistin…vv), một số thuốc chống loạn nhịp (Quinidin, Procainamide, Propranolol…), một số thuốc mê (Halothan, Ether…vv).
  •  Hướng dẫn bệnh nhân tập thở và tích cực ho khạc đờm để tránh ứ trệ đường hô hấp.